Arthur CAYLEY
Arthur CAYLEY
Richmond 1821 Cambridge 1895

Ông sinh trưởng ở nước Anh, nhưng vì cha mẹ ông làm nghề buôn bán, qua nhiều
nước nên ông đã theo cha mẹ sống 8 năm ở Saint Pétersbourg (Nga). Từ năm 1838
đến năm 1849, CAYLEY về Anh, học Toán và Luật tại Trinity College ở
Cambridge.
Năm 1849 ông hành nghề Tư pháp nhưng vẫn say mê Toán học. Từ năm 1863, ông
được bổ nhiệm làm Giáo sư Toán lý thuyết ở Cambridge và rất yên tâm với nghề
giảng dạy và nghiên cứu Toán ở đây, trừ một năm (năm học 1881 - 1882) ông
được mời sang Mỹ dạy tại Đại học Hopkins ở Baltimore. CAYLEY là một con
người tài hoa toàn diện: tính tình rất dễ mến, có trí nhớ tuyệt vời, chơi thể thao có
hạng và là họa sĩ sơn nuớc tài tử. Thêm vào đó ông biết giỏi nhiều ngoại ngữ như
Pháp, Đức, Ý, Hy Lạp nên ông ưa đọc tiểu thuyết bằng tiếng nước ngoài và bả n
thân cũng có viết chút đỉnh. Nhưng Toán học vẫn là nguồn say mê, cảm hứng và
thu hút nhiều tâm lực của ông nhất. Sau EULER và CAUCHY thì ông là người viết
nhiều nổi tiếng về Toán. Toàn bộ khối lượng công trình nghiên cứu Toán học của
ông gồm có 970 bài in thành 13 tập, mỗi tập dày 600 trang.
Bị cuốn hút bởi những công trình của CAUCHY, ông có công tổng quát hóa khái
niệm nhóm các phép thế. Giữa những năm 1849 -1854 ông đưa ra khái niệm về
nhóm trừu tượng như là tập hợp các toán tử tác dụng lên các phần tử của nó sao
cho từng cặp phần tử vẫn ở trong tập hợp. CAYLEY đưa ra ví dụ các quaternions
(với phép cộng) và các ma trận (đối với phép nhân). Định nghĩa này chưa hoàn
chỉnh, phải đợi đến KRONECKER năm 1870, định nghĩa nhóm trừu tượng mới
được nhắc lại và được hoàn thiện.
Người ta xem CAYLEY như là người phát minh ra ma trận. Khi ông đưa ra định
nghĩa ma trận lần đầu tiên năm 1841 thì lúc đó người ta đã biết định thức rồi. Từ
1815, CAUCHY đã dùng định thức như một bảng và sau này CAYLEY đã đưa
thêm hai vạch thẳng đứng như ngày nay ta thường dùng. Ban đầu CAYLEY đưa ra
ma trận vuông (2,2) , (3,3) nhưng ông khẳng định có thể mở rộng cho ma trận chữ
nhật (p,n). Ông còn định nghĩa phép cộng và phép nhân hai ma trận, ma trận
chuyển vị, ma trận nghịch đảo, ma trận đối xứng và ma trận phản đối xứng,
phương trình đặc trưng của ma trận ; ông đưa ra định lý mà ngày nay ta gọi là định
lý CAYLEY - HAMILTON. Ông dùng các công cụ ấy để nghiên cứu Hình học
Giải tích n chiều, độc lập với GRASSMANN, và như ông nói, không cần phải nhờ
đến Siêu hình học. Ông đặt nền móng cho Lý thuyết các không gian vector,
CAYLEY đã nghiên cứu Lý thuyết các bất biến. Trong lý thuyết này ông tìm các
tính chất của các ánh xạ đa tuyến tính và của định thức bất biến qua biến đổi cơ sở
Những điều này bao gồm những khái niệm như định thức của một ma trận hay của
một dạng toàn phương, jacobien hay hessien của một hàm số. Ông công bố đến 10
công trình về Lý thuyết này và từ năm 1854 đến năm 1878 ông nghiên cứu đặc biệt
về jacobien và hessien.
Năm 1859 CAYLEY đưa ra khái niệm conique xạ ảnh như những điểm mà tọa độ
làm triệt tiêu một dạng toàn phương, ông định nghĩa khoảng cách giữa hai điểm
của một mặt phẳng xạ ảnh tương ứng với một dạng toàn phương và khái niệm góc
của hai đường thẳng và ông kết luận rằng Hình học métrique "nằm" trong Hình học
28 năm sau, KLEIN xác nhận rằng các Hình học Phi EUCLIDE cũng theo khuôn
khổ của lý thuyết này.
Hùynh Minh Thuận @ 11:43 29/09/2009
Số lượt xem: 688
- AndrewWILES (29/09/09)
- Alan Mathison TURING (29/09/09)
- 10 sự thật chưa kể về Issac Newton (17/09/09)
- Leonardo FIBONACCI (03/09/09)
- Tiểu sử Euclid (01/09/09)
Các ý kiến mới nhất